Blog

  • Agribank có thông báo khẩn đến toàn bộ khách hàng

    Agribank có thông báo khẩn đến toàn bộ khách hàng

    Agribank đã phát đi thông báo tới khách hàng để người dùng cập nhật.

    Theo báo Đời sống pháp luật có bài Agribank có thông báo khẩn đến toàn bộ khách hàng. Nội dung như sau:

    Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) ngày 28/11 đã phát đi thông báo khẩn gửi tới toàn bộ khách hàng về kế hoạch nâng cấp hệ thống công nghệ.

    Đây là hoạt động định kỳ nhằm tối ưu hiệu suất vận hành, tăng cường an toàn bảo mật và cải thiện trải nghiệm người dùng trong bối cảnh nhu cầu giao dịch số tiếp tục tăng mạnh.

    Theo thông tin từ Agribank, thời gian nâng cấp dự kiến diễn ra trong khoảng từ 00h00 đến 03h00 ngày 29/11/2025. Trong ba giờ này, một số dịch vụ sẽ tạm ngừng hoạt động do hệ thống phải chuyển sang trạng thái kỹ thuật phục vụ nâng cấp.

    Người dùngAgribank có thể chủ động liên hệ với các kênh chính thức của ngân hàng để được hỗ trợ trong trường hợp cần thiết. (Ảnh minh hoạ)

    Các dịch vụ bị gián đoạn bao gồm:

    – Thanh toán và rút tiền qua thẻ ghi nợ nội địa và quốc tế Agribank tại ATM, POS, các điểm chấp nhận thẻ.

    – Giao dịch qua Internet, đặc biệt tại các ví điện tử kết nối với Agribank.

    – Ứng dụng Agribank E-Banking, bao gồm chuyển khoản, thanh toán hoá đơn và các tiện ích trực tuyến.

    – Ứng dụng Agribank Plus cùng một số dịch vụ số khác của ngân hàng.

    Agribank cho biết ngay sau khi quá trình nâng cấp hoàn tất, toàn bộ dịch vụ sẽ được khôi phục và hoạt động bình thường. Nhà băng này khẳng định việc tạm gián đoạn là cần thiết để đảm bảo hệ thống vận hành ổn định, an toàn hơn trong thời gian tới.

    Để hạn chế ảnh hưởng, Agribank khuyến nghị khách hàng chủ động sắp xếp kế hoạch giao dịch, đặc biệt đối với những nhu cầu quan trọng, cần thực hiện trước thời điểm nâng cấp. Trong trường hợp phát sinh tình huống cần hỗ trợ, khách hàng được đề nghị liên hệ qua các kênh chính thức như tổng đài chăm sóc khách hàng, website hoặc chi nhánh/PGD gần nhất.

    Thông báo lần này của Agribank nhằm giúp khách hàng nắm bắt sớm và chủ động chuẩn bị, đảm bảo quá trình sử dụng dịch vụ không bị gián đoạn đáng kể trong thời gian ngân hàng thực hiện nâng cấp hạ tầng kỹ thuật.

    Theo Phụ nữ số đưa tin “Từ 1/1/2026: Vietcombank, VietinBank, Agribank… sẽ tạm ngừng toàn bộ giao dịch rút/chuyển tiền đối với trường hợp sau’, nội dung chính như sau: 

    Một thông báo quan trọng vừa được hàng loạt ngân hàng thương mại phát đi: Kể từ ngày 1/1/2026, người dùng Việt Nam sẽ không thể thực hiện rút tiền hay thanh toán nếu vẫn sử dụng Hộ chiếu (Passport) làm giấy tờ tùy thân đăng ký với ngân hàng.

    Theo thông báo này, để tránh việc tài khoản bị “đóng băng” các chức năng thanh toán và rút tiền trên mọi kênh, khách hàng buộc phải đến các chi nhánh hoặc phòng giao dịch để cập nhật thông tin sang Căn cước công dân (CCCD) gắn chip.

    Đây không phải là quy định riêng lẻ của từng ngân hàng mà là yêu cầu bắt buộc nhằm tuân thủ các điều khoản mới tại Thông tư 17 và Thông tư 18 do Ngân hàng Nhà nước ban hành, chính thức có hiệu lực toàn phần từ đầu năm 2026.

    Do đó, tất cả khách hàng của các ngân hàng như Vietcombank, VietinBank, Agribank, BIDV… đều phải tuân thủ quy định.

    Quy định mới này xuất phát từ yêu cầu siết chặt an ninh thông qua dữ liệu sinh trắc học. Cụ thể, theo điểm c, khoản 5 Điều 17 của Thông tư 17, mọi giao dịch rút tiền hay thanh toán điện tử của khách hàng cá nhân chỉ được phép thực hiện khi hệ thống đã đối chiếu khớp đúng dữ liệu sinh trắc học (khuôn mặt/vân tay) của người thực hiện với dữ liệu gốc. Dữ liệu gốc này phải nằm trong bộ phận lưu trữ mã hóa của thẻ CCCD gắn chip, thẻ Căn cước do Bộ Công an cấp, hoặc đã được xác thực qua tài khoản định danh điện tử (VNeID).

    Trong khi đó, hộ chiếu hiện tại, dù là loại mới vẫn chưa đáp ứng được quy trình đối chiếu sinh trắc học trực tiếp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo chuẩn kỹ thuật mà các ngân hàng áp dụng cho quy định mới. Do đó, nhóm khách hàng là công dân Việt Nam đang dùng hộ chiếu để đăng ký tài khoản sẽ không đáp ứng được điều kiện pháp lý để giao dịch kể từ thời điểm ngày 1/1/2026.

    Không chỉ dừng lại ở việc rút tiền, Thông tư 18 cũng quy định chặt chẽ về quy trình mở thẻ mới. Các tổ chức phát hành thẻ sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp thẻ CCCD, thẻ Căn cước hoặc định danh điện tử mức độ 2 để nhận biết khách hàng. Điều này đồng nghĩa với việc hộ chiếu – loại giấy tờ từng được chấp nhận rộng rãi theo Thông tư cũ năm 2018 – sẽ chính thức “hết hạn sử dụng” trong các quy trình xác thực tài khoản ngân hàng nội địa đối với người Việt Nam.

    Một số ngân hàng đã có thông báo chính thức về việc này.

    Trước đó, các ngân hàng đều đã phát thông báo chính thức về việc tạm dừng thực hiện giao dịch thanh toán, rút tiền điện tử đối với khách hàng tổ chức chưa cập nhật đầy đủ thông tin sinh trắc học người đại diện hợp pháp từ sau ngày 1/7/2025. Để đảm bảo giao dịch không bị gián đoạn, ngân hàng đề nghị khách hàng đến trực tiếp chi nhánh nơi mở tài khoản để cập nhật thông tin, mang theo giấy tờ tùy thân hợp lệ.

    Việc thay đổi này là bước đi quyết liệt của ngành ngân hàng nhằm ngăn chặn tội phạm công nghệ cao, tài khoản ảo và gian lận tài chính. Vì vậy, người dùng cần chủ động cập nhật thông tin sớm nhất có thể để đảm bảo dòng tiền và các giao dịch tài chính không bị gián đoạn khi năm 2026 gõ cửa.

  • Phát hiện thông gia đưa cái kiềng vàng gi;;ả để trao cho con trong đám cưới, mẹ cô dâu có màn đáp trả cao tay khiến cả rạp cươí n;áo lo;;ạn

    Phát hiện thông gia đưa cái kiềng vàng gi;;ả để trao cho con trong đám cưới, mẹ cô dâu có màn đáp trả cao tay khiến cả rạp cươí n;áo lo;;ạn

    Phát hiện thông gia đưa cái kiềng vàng gi///ả để trao cho con trong đám cưới, mẹ cô dâu có màn đá//p tr//ả cao tay khiến cả rạp cươí n///áo lo///ạn

    Đám cưới của Minh và Hương là niềm vui sau 3 năm yêu đương. Minh là trai phố, con nhà khá giả, còn Hương là cô gái /tỉnh l/ẻ, con nhà làm nông, bố mẹ quanh năm đầu tắt mặt tối với ruộng đồng và mấy co/n lợ/n.

    Ngày dạm ngõ, mẹ Minh – bà Thu – nhìn quanh căn nhà cấp bốn x/ập x/ệ mà cau mày. Sau buổi nói chuyện, khi ra cổng, bà dúi vào tay mẹ Hương một chiếc hộp nhung nhỏ, giọng ngọt như đường:

    “Chị cầm cái kiềng này về nhé, hôm cưới nhớ đeo cho con gái chị cho đẹp mặt. Dâu con nhà tôi không thể tay trắng bước ra rạp được, người ta cười.”

    Mẹ Hương bối rối nhận lấy, cảm ơn rối rít. Nhưng khi về nhà, bà mở hộp ra thì ng//ã qu//ỵ — bên trong là chiếc kiềng vàng g//iả, nhẹ hều và lấp lánh như nhựa mạ.

    Bà lặng người, nư/ớc m/ắt rơi xuống đôi bàn tay chai sạn:

    “Người ta co//i th//ường con mình đến vậy sao…”

    Bà không nói gì với Hương, chỉ im lặng cất chiếc kiềng ấy vào tủ. Suốt đêm hôm đó, bà ngồi nhìn tấm hình cưới con gái mà n/ước m/ắt không ngừng rơi.

    Đến ngày cưới, rạp được dựng hoành tráng bên nhà trai. Họ hàng, quan khách tấp nập. Khi MC hô to phần trao quà cưới, mẹ Minh oai vệ bước lên sân khấu, giọng sang sảng:

  • Tôi 65 Tuổi, Ly H;ôn Được 5 Năm. Chồng C ũ Để Lại Thẻ Ngân Hàng Có 3 Triệu. Tôi Chưa Từng Đụng Tới. Năm Năm Sau Đi Rút Tiền, Tôi S;;ững Ngư;;ời.

    Tôi 65 Tuổi, Ly H;ôn Được 5 Năm. Chồng C ũ Để Lại Thẻ Ngân Hàng Có 3 Triệu. Tôi Chưa Từng Đụng Tới. Năm Năm Sau Đi Rút Tiền, Tôi S;;ững Ngư;;ời.

    Tôi 65 Tuổi, Ly H;ôn Được 5 Năm. Chồng Cũ Để Lại Thẻ Ngân Hàng Có 3 Triệu. Tôi Chưa Từng Đụng Tới. Năm Năm Sau Đi Rút Tiền, Tôi Sữ;ng Người.

    Tôi 65 tuổi. Và sau 37 năm chung sống, tôi bị chính người chồng của mình rời bỏ. Ngày ly hôn, ông Thuận – chồng cũ của tôi – đưa cho tôi một chiếc thẻ ngân hàng, bảo rằng trong đó có 3 triệu, đủ để tôi “xoay xở vài tháng”. Ông nói nhẹ như thở, như thể cuộc hôn nhân mấy chục năm chỉ đáng giá mấy tờ tiền lẻ. Tôi nhìn tấm lưng lạnh lùng của ông bước ra khỏi phòng xử, lòng nghẹn đến mức không thở được. Tôi giữ thẻ lại, không phải vì cần tiền, mà vì nó giống như cái gai tôi không thể nhổ ra.

    Tôi sống âm thầm trong căn phòng trọ chật hẹp, kiếm sống bằng đủ thứ việc lặt vặt: nhặt ve chai, giữ xe, dọn nhà thuê. Mấy năm đầu sau ly hôn là khoảng thời gian u tối nhất trong đời tôi. Những khi thèm một bữa cơm tử tế, tôi cũng không dám đụng đến 3 triệu đó. Không phải tôi giàu, mà vì tôi không muốn chạm vào thứ ông bố thí cho mình. Tôi ghét nó. Ghét cái ngày tôi bị bỏ lại. Ghét cái cảm giác mình bị xem như gánh nặng.

    Thời gian như một con dao cùn, cứa vào mình chậm rãi nhưng đau dai dẳng. Tôi già đi nhanh chóng. Có những ngày đứng lên còn không nổi. Con cái thỉnh thoảng ghé thăm, dúi cho tôi ít tiền, nhưng chúng có gia đình riêng, tôi không dám kể bệnh tình của mình để khỏi phiền chúng. Tôi cứ thế mà sống, cầm cự qua ngày.

    Cho đến hôm đó, tôi ngất ngay trước cửa nhà trọ. Bác sĩ bảo tôi bị suy dinh dưỡng nặng, cần viện phí lâu dài. Tôi không còn cách nào khác. Ở cái tuổi này, cuối cùng tôi cũng quyết định rút số tiền trong chiếc thẻ suốt năm năm qua tôi vẫn trốn tránh. Tôi nghĩ: “Nó chỉ có 3 triệu thôi. Nhưng lúc này, 3 triệu cũng cứu được mình vài ngày.”

    Sáng hôm sau, tôi đến ngân hàng, hai tay run rẩy đưa thẻ cho cô nhân viên. Tôi bảo: “Cô rút hết giúp tôi.” Trong lòng vẫn nghĩ lát nữa mình sẽ cầm vài tờ tiền rách bươm, rồi lại quay về căn phòng trọ ẩm ướt ấy.

    Nhưng cô nhân viên cứ nhìn màn hình rất lâu, rồi nhìn tôi đầy lạ lẫm. Tôi thấy tim mình đập mạnh, lo sợ có gì đó sai sót. Tôi hỏi: “Có gì không ổn sao cháu?” Cô gái trẻ nuốt nước bọt, nói nhỏ:
    “Cô… số tiền trong tài khoản của cô không phải 3 triệu.”

    Tôi khựng lại. “Là bao nhiêu?”

    Cô ấy in sao kê, đẩy về phía tôi.
    Tôi nhìn xuống tờ giấy… rồi tim tôi như ngừng đập.

    983.000.000 đồng.
    Gần một tỷ.

    Tôi sững người. Tôi tưởng mình đọc nhầm. Tôi nheo mắt, xoay tờ giấy lại, nhìn thêm lần nữa. Vẫn là con số đó. Tôi thấy đầu óc quay cuồng, chân tay lạnh buốt.

    “Tại sao… lại có nhiều tiền đến vậy? Tài khoản này… của ai chuyển vào?”

    Cô nhân viên kéo màn hình lại gần tôi. Một cái tên quen thuộc hiện lên trong những dòng chuyển tiền đều đặn suốt 5 năm nay.

    THUẬN.

    Tôi chết lặng.
    Không thể nào.
    Ông ấy bỏ tôi. Ông ấy lạnh lùng đến tàn nhẫn.
    Vậy sao 5 năm trời ông âm thầm chuyển tiền, tháng nào cũng gửi? Có tháng 10 triệu, 15 triệu, thậm chí 30 triệu. Không thiếu một lần.

    “Sao… sao ông ấy không nói với tôi?” – tôi hỏi trong run rẩy.

    Cô nhân viên lắc đầu. “Chú ấy chưa từng ghi lời nhắn. Chỉ chuyển tiền đều đặn.”

    Tôi về nhà, dùng cả buổi tối chỉ để ngồi im, nhìn trần nhà, nước mắt chảy không ngừng. Mọi ký ức ùa về như cơn lũ: những ngày ông im lặng bất thường, những lần ông nhìn tôi mà ánh mắt như chứa điều gì đó đau đáu. Những đêm ông thức trắng, tưởng tôi không thấy.

    Có phải… ông rời bỏ tôi vì một lý do nào đó?
    Có phải ông chưa bao giờ hết thương tôi?
    Hay đó là cách ông chuộc lỗi?

    Tôi không thể chịu nổi sự mơ hồ này.
    Tôi phải tìm gặp ông.

    Sáng hôm sau, tôi bắt xe về quê. Tôi đến nhà chị gái ông – nơi tôi nghe nói ông trú tạm sau ly hôn. Ngôi nhà nhỏ, cũ kỹ, nằm sát mé ruộng.

    Tôi bước vào sân, gọi: “Chị Ba ơi… chị có nhà không?”

    Một người phụ nữ tuổi ngoài bảy mươi bước ra. Chị nhìn thấy tôi thì khựng lại, đôi mắt ánh lên thứ gì đó… thương xót.

    “Lành… em đến rồi hả?”

    Tôi gật đầu. “Chị… Thuận đâu rồi? Em có chuyện phải hỏi.”

    Chị Ba nhìn tôi rất lâu, rồi xoay người, lấy trong nhà ra một chiếc hộp gỗ nhỏ. Môi chị run lên, như đang cố nuốt một điều gì đó khó nói.

    “Lành… Thuận… nó mất rồi.”

    Tôi nghe mà như ai giáng búa vào ngực. Tôi chới với: “Không… không thể nào. Chị nói gì vậy? Mới có 5 năm thôi…”

    Chị Ba lau nước mắt. “Nó bị ung thư giai đoạn cuối từ trước khi ly hôn… Nó biết mình không còn sống được bao lâu.”

    Tôi choáng váng.
    Cả người như rơi xuống một hố sâu không đáy.

    Chị tiếp lời, giọng nghẹn:
    “Nó không muốn em khổ vì bệnh tật của nó. Không muốn em chăm người sắp chết. Nó sợ em phải sống nốt đời trong nước mắt. Nên nó mới dứt khoát ly hôn, để em tự do… để em có cơ hội sống nhẹ nhàng hơn.”

    Tôi ôm ngực, khó thở.
    Thế ra… suốt mấy năm qua… tôi đã oán hận nhầm một người.

    Chị Ba đặt chiếc hộp gỗ vào tay tôi.
    “Trong này… là thư nó viết cho em. Nhưng nó dặn, chỉ được đưa khi em tìm đến.”

    Tôi mở hộp.
    Bên trong là bức thư cũ, nét chữ quen thuộc.

    “Lành à,
    Khi em đọc lá thư này, chắc tôi không còn nữa.
    Tôi xin lỗi vì đã bỏ em đi theo cách tàn nhẫn nhất.
    Tôi đau lắm. Nhưng tôi sợ nếu nói, em sẽ khóc mà giữ tôi lại.
    Tôi không muốn em chăm một người sắp chết.
    Tôi muốn em sống tiếp… không mang gánh nặng nào.
    Tiền trong thẻ tôi sẽ gửi đều đặn. Em nhớ ăn uống cho tốt.
    Tôi không cần em tha thứ.
    Chỉ mong em sống lâu, sống khỏe.
    Nếu có kiếp sau… tôi vẫn muốn cưới em.”

    Tôi gục xuống trước hiên nhà, khóc nghẹn như một đứa trẻ.

    Hóa ra suốt năm năm qua, tôi sống trong hận thù, còn ông thì sống trong cuộc đua với cái chết, âm thầm gửi tiền cho tôi từng tháng, cho đến khi đôi tay ông không thể gõ nổi bàn phím nữa.

    Tôi cứ nghĩ ông phụ bạc.
    Nhưng sự thật… là ông yêu tôi đến mức chọn cách ra đi đau đớn nhất.

    Trên bàn thờ trong nhà chị Ba, tôi nhìn thấy di ảnh ông.
    Nụ cười hiền hậu, ánh mắt quen thuộc…
    Tôi chạm tay vào khung ảnh, run bần bật.

    “Tại sao… tại sao ông không nói với tôi…” – tôi thì thầm.

    Nhưng ông không bao giờ trả lời nữa.

    Ngày ấy, lúc tôi cầm thẻ ngân hàng 3 triệu trong tay, tôi tưởng mình là người bị bỏ rơi.
    Năm năm sau, khi đứng trước bàn thờ ông, tôi mới hiểu:
    Tôi là người được yêu thương nhiều nhất, nhưng lại không nhận ra.

  • 20 năm trước, người phụ nữ bỏ chồng và 4 đứa con bơ vơ, lên thành phố đ;ẻ th;uê cho đại gia

    20 năm trước, người phụ nữ bỏ chồng và 4 đứa con bơ vơ, lên thành phố đ;ẻ th;uê cho đại gia

    Trời miền Tây tháng Sáu oi nồng, hơi đất quyện mùi rơm khét. Căn nhà nhỏ lợp tôn nằm nép bên con lộ đất đỏ, nơi đó, từng có tiếng trẻ con ríu rít mỗi chiều. Bây giờ chỉ còn người đàn ông gầy, đôi mắt thâm sâu và bốn đứa con đã lớn, ít nói như nhau. Người ta nói, đàn ông mà bị vợ bỏ thì khổ gấp đôi người đàn bà, nhất là khi trong tay chẳng có gì ngoài mấy đứa nhỏ.

    Hai mươi năm trước, bà Hạnh bỏ đi.

    Bà khi ấy mới ngoài ba mươi, tóc dài, da trắng, có nét sắc sảo hiếm thấy ở làng nghèo. Ông Dũng, chồng bà, chỉ là thợ hồ. Cuộc sống chật vật, bữa cơm quanh quẩn với cá khô và canh chua bần. Bà Hạnh hay thở dài, rồi một ngày người ta thấy bà mặc bộ đầm đỏ, lên xe hơi đi mất, để lại bốn đứa con, đứa lớn mới mười tuổi, đứa út còn bú.

    Người ta đồn: bà theo ông Phát — một đại gia ở Sài Gòn, góa vợ, có mấy công ty bất động sản.
    Có người bảo bà làm thế để “đổi đời”, có người bảo bà bị mê hoặc bởi tiền.
    Riêng ông Dũng, ông chỉ im lặng.
    Tối đó, ông đốt hết mấy tấm hình cưới, rồi đi làm gấp đôi ca. Ông vừa làm thợ hồ, vừa chạy xe ôm, miễn sao mấy đứa nhỏ được ăn học.


    Cuộc đời bà Hạnh sau đó là một chuỗi ngày vàng son. Ở Sài Gòn, bà sống trong căn biệt thự trắng, có người giúp việc, có tài xế riêng. Bà sinh cho ông Phát hai đứa con — một trai một gái. Ông Phát vui vẻ, thưởng cho bà ba tỷ và sang tên một căn nhà đứng tên bà.
    Bà cười nhiều, đi spa, mua túi hàng hiệu, uống rượu vang mỗi tối. Mấy năm đầu, bà còn nằm mơ thấy mấy đứa con ở quê, tóc cháy nắng, chạy theo tiếng gọi “má ơi!”. Nhưng rồi thời gian và nhung lụa làm mờ dần ký ức. Bà dặn lòng: “Quá khứ chỉ làm khổ mình.”

    Rồi ông Phát bệnh. Người ta phát hiện ông ung thư gan giai đoạn cuối. Sau khi ông mất, vợ con của ông ở nước ngoài về, không chấp nhận bà Hạnh. Họ kiện, kéo nhau ra tòa, tranh chấp tài sản. Bà Hạnh chỉ giữ được số tiền nhỏ và bị đuổi khỏi biệt thự.
    Hai đứa con với ông Phát được gửi cho họ hàng bên nội nuôi, vì bà không có tên trong hộ khẩu nhà ông. Bà quay lại căn nhà nhỏ thuê ở quận ven, lặng lẽ sống một mình.


    Thời gian cứ thế trôi. Hai mươi năm kể từ ngày bà rời quê. Một sáng, bà nhận được tin nhắn lạ:

    “Má có muốn biết con của má bây giờ ra sao không?”

    Bà giật mình. Tim đập dồn dập như thời trẻ. Số lạ, không tên. Bà nhắn lại:

    “Con là ai?”

    Phía bên kia không trả lời. Nhưng mấy ngày sau, bà nhận được một bức ảnh: một người đàn ông đang đứng trước căn nhà cũ ở quê, tay cầm cây gỗ, phía sau là biển hiệu “Dũng – thợ xây”.
    Người đó là chồng cũ bà.
    Bên cạnh ông, là ba thanh niên và một cô gái, gương mặt có nét giống bà đến lạ.

    Bà ngồi lặng. Mọi ký ức như sống lại.
    Bà từng bỏ rơi họ, bỏ cả tuổi thơ của con, chỉ để đổi lấy ba tỷ.
    Bây giờ, họ vẫn sống, có vẻ không giàu nhưng bình yên.
    Bà Hạnh bỗng thấy mình cô độc đến lạnh người.


    Bà quyết định về quê.
    Chuyến xe đò từ bến Miền Tây chạy suốt đêm. Sáng ra, bà bước xuống, chân run run. Con lộ đất năm nào giờ đã thành đường nhựa. Căn nhà cũ vẫn đó, chỉ khác là cổng sắt mới sơn, giàn bông giấy nở đỏ rực.

    Bà đứng ngoài cổng, không dám bấm chuông.
    Một người phụ nữ trẻ đi qua, nhìn bà một lát rồi hỏi:
    – Cô tìm ai vậy?
    – Cô… cô tìm anh Dũng.

    Người kia mỉm cười:
    – Ba con hả? Ba con mất rồi, năm ngoái.

    Bà Hạnh như bị ai đó tát. Mắt hoa lên, tay bấu vào cột cổng. Cô gái nhìn bà, ngờ ngợ:
    – Cô… là má con sao?

    Bà gật. Nước mắt trào ra.
    Nhưng cô gái chỉ đứng im, ánh mắt lạnh lẽo.
    – Ba con bệnh mấy năm, chưa bao giờ nhắc đến má. Ổng nói má chết rồi.

    Cô nói xong, quay vào nhà, đóng cổng lại.

    Bà Hạnh đứng đó, nắng chang chang, tiếng ve rền bên tai. Bà ngồi sụp xuống, nhớ lại ngày mình bỏ đi, cũng giữa mùa hè như thế này. Khi ấy, bà còn son, còn tin rằng tiền có thể mua lại hạnh phúc.


    Từ đó, bà sống vật vờ ở quê, thuê phòng nhỏ gần chợ. Bà thỉnh thoảng thấy mấy đứa con đi qua mà không dám gọi. Một lần, bà lén bỏ vào giỏ xe của con trai cả một phong bì, trong đó có mấy tờ tiền và một tờ giấy viết nguệch ngoạc:

    “Má xin lỗi. Nếu có thể, cho má một cơ hội được nhìn các con.”

    Phong bì bị trả lại, kèm theo dòng chữ nguệch ngoạc khác:

    “Không có má nào bỏ con vì tiền. Bà cứ sống đời bà đi.”

    Từ hôm đó, bà không ra chợ nữa.


    Mùa nước nổi năm sau, có người thấy bà ngồi một mình bên bờ sông, nhìn về phía xa. Trời đổ mưa. Khi người ta quay lại, bà đã không còn.
    Công an tìm thấy chiếc ví trong túi áo: chỉ có vài chục ngàn, một tấm hình cũ chụp ông Dũng và bốn đứa nhỏ năm xưa, đã nhòe màu.

    Cô con gái út khi nghe tin, về đứng trước nơi người ta vớt xác, lặng lẽ thắp nén nhang. Cô nói khẽ:
    – Má… nếu má ở lại, chắc con không ghét má đâu.

    Người ta kể rằng, hôm đó trời mưa rất lâu. Dòng sông đục ngầu nhưng phẳng lặng đến lạ.
    Ai đó nói, đó là cơn mưa cuối mùa — cũng là cơn mưa tiễn một kiếp người đã lạc đường.


    Mấy năm sau, người ta thấy trên mộ vô danh ở cuối làng có khắc thêm một dòng chữ nhỏ, do ai đó mới khắc:

    “Một người mẹ từng đi lạc trong giấc mộng giàu sang.”

    Không ai biết ai làm điều đó.
    Chỉ biết rằng mỗi chiều, khi nắng tắt, có cô gái trẻ vẫn mang hoa ra mộ, ngồi rất lâu, nhìn về phía bầu trời tím nhạt.
    Có lẽ cô đã tha thứ.
    Nhưng người đã ra đi — chẳng còn nghe thấy nữa.

  • Năm 1995, tại bang Texas (Mỹ), một gia đình người Việt gồm bảy thành viên bất ngờ biến mất khỏi ngôi nhà của họ, để lại duy nhất một mảnh giấy vỏn vẹn dòng chữ: “Đi thăm người thân vài ngày.

    Năm 1995, tại bang Texas (Mỹ), một gia đình người Việt gồm bảy thành viên bất ngờ biến mất khỏi ngôi nhà của họ, để lại duy nhất một mảnh giấy vỏn vẹn dòng chữ: “Đi thăm người thân vài ngày.

    Năm 1995, một gia đình người Việt gồm bảy thành viên sống ở ngoại ô Houston, Texas, bỗng biến mất chỉ sau một đêm. Họ để lại duy nhất một mảnh giấy viết vội:

    “Đi thăm người thân vài ngày.” Nhưng rồi không một ai quay về, cũng không ai nghe thấy tin tức gì. Căn nhà nhỏ, chiếc xe hơi cũ trong gara, và những bữa cơm dở dang trên bàn — tất cả đứng im như thể thời gian bị chặn lại. Suốt 10 năm, cộng đồng Việt kiều quanh đó không ngừng bàn tán. Cho đến một ngày, một sự tình cờ đã làm bật ra bí mật rợn người bị che giấu.

    Gia đình ông Bảy và bà Lan định cư ở Mỹ từ cuối thập niên 80. Họ có bốn người con: hai trai, hai gái, cùng bà cụ thân sinh của ông Bảy từ Việt Nam sang đoàn tụ. Ngôi nhà nhỏ ở khu ngoại ô vốn lúc nào cũng rộn ràng tiếng nói cười, mùi cơm cá kho, canh chua. Hàng xóm người Mỹ thường bảo:

    “Ngôi nhà ấy lúc nào cũng tỏa ra mùi thơm dễ chịu.”

    Ông Bảy làm công nhân hãng sửa xe, bà Lan phụ bếp cho một tiệm phở. Cuộc sống không dư dả, nhưng ổn định và đầy yêu thương. Các con đi học về thường ngồi quanh bàn ăn kể chuyện trường lớp, xen lẫn tiếng cằn nhằn của bà cụ khi thấy bọn nhỏ mải chơi hơn học.

    Mùa hè năm 1995, cả gia đình còn tham gia lễ hội Tết Trung Thu do cộng đồng người Việt tổ chức. Ai cũng thấy họ bình thường: nụ cười của bà Lan, dáng ông Bảy lúi húi phụ dựng lồng đèn, lũ trẻ chạy nhảy tung tăng. Không dấu hiệu nào báo trước biến cố.

    Rồi đến một buổi sáng, người hàng xóm tên Sarah bước sang, định nhờ ông Bảy giúp sửa cái bếp gas. Bà gõ cửa mãi không ai trả lời. Cửa không khóa, bà bước vào thì thấy căn nhà im lìm. Bàn ăn còn nguyên chén đũa, nồi cá kho chưa kịp dọn. Trên bàn gỗ nhỏ cạnh cửa có một mảnh giấy viết bằng tiếng Việt:

    “Đi thăm người thân vài ngày.” Xe hơi vẫn nằm trong gara, vali quần áo vẫn ở tủ. Cảnh sát được gọi tới, nhưng họ cho rằng đây chỉ là một chuyến đi ngắn.

    Ngày nối ngày, rồi vài tháng trôi qua. Gia đình ấy không trở lại. Bưu điện bắt đầu chất đầy thư, hóa đơn. Những lời đồn đại lan khắp cộng đồng: nào là họ trốn nợ, nào là bị bắt cóc, thậm chí có người thì thào rằng ông Bảy từng dính dáng chuyện làm ăn mờ ám. Nhưng không bằng chứng, không dấu vết. Căn nhà dần trở thành “ngôi nhà ma” trong mắt người dân quanh vùng.

    Thời gian trôi qua, căn nhà xuống cấp. Cỏ mọc cao ngập cả sân. Đôi khi có người thấy ánh đèn chập chờn bên trong, dù cửa luôn khóa. Trẻ con trong khu phố thách nhau vào sân sau, rồi hét ầm vì nghe như có tiếng bước chân trên gác.

    Năm 2005, một nhóm thanh niên gốc Việt trong cộng đồng quyết định tìm hiểu. Họ muốn chứng minh câu chuyện “ma quái” chỉ là lời đồn. Một tối mùa hè, cả nhóm mang theo đèn pin, máy quay, lẻn vào căn nhà bỏ hoang.

    Bên trong, mọi thứ phủ bụi dày, nhưng kỳ lạ là không hề có dấu hiệu bị phá phách. Trên bàn vẫn còn khung ảnh gia đình, áo khoác treo gọn gàng trong tủ. Dường như cả bảy người chỉ vừa bước ra ngoài và không bao giờ quay lại. Một trong nhóm để ý đến tờ lịch treo tường dừng lại ở tháng 6/1995 — đúng thời điểm họ biến mất.

    Khi soi kỹ dưới gầm giường, họ phát hiện một hộp gỗ nhỏ. Trong hộp có vài lá thư viết tay bằng tiếng Việt, nét chữ run rẩy. Nội dung rời rạc, nhắc đến nỗi lo sợ bị “theo dõi”, và một đoạn mơ hồ:

    “Nếu có chuyện gì xảy ra, hãy tìm dưới gốc cây sau nhà.”

    Ngày hôm sau, cả nhóm quay lại đào thử phía sau vườn. Đúng như lời nhắn, dưới lớp đất ẩm, họ tìm thấy một chiếc hộp thiếc cũ. Bên trong không phải vàng bạc, mà là một cuốn sổ tay đã úa vàng. Trang đầu tiên viết: “Chúng ta không còn an toàn. Có người biết bí mật của gia đình.”

    Tin tức lan ra nhanh chóng, khiến cộng đồng xôn xao. Người ta bắt đầu đặt câu hỏi: Gia đình ấy thực sự đã đi thăm người thân, hay đã bỏ trốn khỏi một thứ gì khủng khiếp hơn?

    Cảnh sát được mời vào cuộc lần nữa, nhưng hồ sơ cũ đã quá lâu, manh mối mờ nhạt. Cuốn sổ tay chứa nhiều đoạn viết ngắt quãng, đôi khi như mật mã, đôi khi chỉ là những dòng cầu nguyện. Có trang nhắc đến “khoản nợ máu ở quê cũ”, có trang lại ghi “kẻ bám theo bóng tối”.

    Những cụ cao niên trong cộng đồng thì thầm rằng ông Bảy từng liên quan đến chuyện vượt biên năm 1979, và có thể đã dính vào một mối thù nào đó. Người khác lại bảo, có khả năng gia đình bị lừa sang một tiểu bang khác, rồi bị giữ làm lao động chui.

    Không câu trả lời nào chắc chắn. Nhưng điều rợn người nhất xảy ra vài tháng sau khi cuốn sổ được tìm thấy. Một người trong nhóm thanh niên kia kể rằng anh liên tục nhận được cuộc gọi lạ, đầu dây chỉ có tiếng thở dài. Ban đêm, có lúc anh thấy bóng dáng một phụ nữ mặc áo bà ba trắng đứng bên cửa sổ nhà mình, rồi biến mất.

    Căn nhà nơi gia đình ấy từng sống cuối cùng bị chính quyền niêm phong, sau đó phá bỏ để xây khu thương mại. Nhưng những ai từng đi ngang vẫn nói đôi khi nghe thấy tiếng trẻ con cười vang trong gió, hoặc mùi cá kho phảng phất.

    Câu chuyện khép lại mà không có hồi kết rõ ràng. Bảy con người biến mất không dấu vết, để lại một mảnh giấy ngắn ngủi và cuốn sổ tay u ám. Mười năm sau, bí mật hé lộ chỉ càng khiến mọi thứ thêm bí ẩn. Đời thường tưởng chừng yên ả, hóa ra vẫn có những góc tối mà chẳng ai dám chạm tới tận cùng.

  • 4 loại thịt không khác gì ‘thuocdoc’, đáng lẽ phải BỊ C:.Ấ;:.M từ lâu: Vậy mà nhiều người Việt vẫn ăn

    4 loại thịt không khác gì ‘thuocdoc’, đáng lẽ phải BỊ C:.Ấ;:.M từ lâu: Vậy mà nhiều người Việt vẫn ăn

    Nguồn: https://kenh14.vn/4-loai-thit-dang-le-phai-bi-cam-tu-lau-vay-ma-nhieu-nguoi-van-an-215251011113626760.chn

    Nếu chọn nhầm, nguy cơ tiếp xúc với hóa chất, vi khuẩn và độc tố là hoàn toàn có thể xảy ra.

    Thịt là nguồn cung cấp đạm quan trọng và xuất hiện thường xuyên trên mâm cơm. Tuy nhiên, an toàn thực phẩm của thịt phụ thuộc rất lớn vào khâu lựa chọn, chế biến và bảo quản. Nếu chọn nhầm, nguy cơ tiếp xúc với hóa chất, vi khuẩn và độc tố là hoàn toàn có thể xảy ra.

    Có 4 loại thịt nên tuyệt đối tránh mua.

    1. “Cá diesel”, “cá tẩm bột giặt”

    Một số đối tượng gian thương lợi dụng thủ thuật để cá trông tươi hơn bằng cách cho thêm diesel vào nước làm giảm lượng không khí trong nước, khiến những con cá đang giãy giụa bơi lội dữ dội và trông có vẻ linh hoạt, hoặc ngâm cá trong dung dịch formaldehyde rồi phun thêm chất tạo bọt giống bột giặt để tạo độ bóng bề ngoài. Những chất này có khả năng gây kích ứng tiêu hóa, làm tổn hại gan và có liên quan nguy cơ ung thư cho người tiêu dùng.

    4 loại thịt đáng lẽ phải BỊ CẤM từ lâu, vậy mà nhiều người vẫn ăn- Ảnh 1.
    Khi mua cá, nếu thấy mùi dầu, mùi hắc nghi ngờ hóa chất, hoặc thân cá cứng bất thường, người dân nên tránh.

    2. Thịt cấp đông quá lâu

    Thịt đông lạnh không sai, nhưng nếu thịt đã qua bảo quản quá lâu, nguy cơ oxy hoá chất béo và phân hủy protein sẽ cao, sinh ra các hợp chất độc. Một số vụ việc được phanh phui trước đây ở Trung Quốc, loại thịt này còn được gọi là “thịt xác sống”.

    4 loại thịt đáng lẽ phải BỊ CẤM từ lâu, vậy mà nhiều người vẫn ăn- Ảnh 2.
    Người tiêu dùng nên chú ý giá bán, màu sắc, mùi sau khi rã đông và ưu tiên mua thịt tại siêu thị hoặc cửa hàng có uy tín.

    3. Cổ heo có điểm đỏ, xám nghi bệnh

    Vùng cổ heo là nơi có nhiều hạch lympho. Nếu phần này có màu sắc bất thường, dạng hạch, đó có thể là mô bệnh. Mặc dù quy trình giết mổ tiêu chuẩn sẽ loại bỏ phần này, người dân khi mua vẫn cần quan sát kỹ.

    4 loại thịt đáng lẽ phải BỊ CẤM từ lâu, vậy mà nhiều người vẫn ăn- Ảnh 3.
    4. Tôm có màu quá đỏ, nghi bị “nhuộm màu”

    Một số trường hợp tôm có thể được nhuộm sắc tố bị cấm sử dụng trong thực phẩm để tạo vẻ tươi mới. Nếu lau bằng khăn ướt thấy lem màu hoặc ngâm nước ấm thấy nước đổi màu đục, có thể nghi ngờ bị can thiệp.

    4 loại thịt đáng lẽ phải BỊ CẤM từ lâu, vậy mà nhiều người vẫn ăn- Ảnh 4.
    Giới chuyên môn cho rằng ăn thịt an toàn không chỉ là tránh thực phẩm bị can thiệp hoá chất, mà còn phải chú ý cách ăn. Nội tạng động vật dù chứa nhiều vi chất nhưng cũng có nguy cơ tồn lưu kim loại nặng, nên không nên ăn thường xuyên. Các loại thịt tẩm ướp sẵn cũng cần hạn chế vì chứa nhiều muối và nitrit.

    Trong báo cáo từng đăng trên các tạp chí y khoa lớn, tiêu thụ nhiều thịt chế biến sẵn mỗi ngày có liên quan tăng nguy cơ bệnh tim mạch và ung thư. Vì vậy, nguyên tắc ăn thịt hợp lý vẫn là kiểm soát lượng, đa dạng lựa chọn và ưu tiên phương pháp chế biến phù hợp.

    Về bảo quản, nhiệt độ lạnh giúp kìm hãm vi sinh vật, nhưng không thể tiêu diệt hoàn toàn. Nếu phải trữ đông, người dân cần ghi nhớ thời gian bảo quản phù hợp với từng loại thịt và nên sử dụng càng sớm càng tốt.

  • Vậy nên chuyện gì “lệch nhịp” một chút cũng thành đề tài bàn tán, huống gì chuyện ông Cụ Lãm — bảy mươi hai tuổi, mắt còn tinh, lưng vẫn thẳng — ngày nào cũng mua hai chục ký thịt

    Vậy nên chuyện gì “lệch nhịp” một chút cũng thành đề tài bàn tán, huống gì chuyện ông Cụ Lãm — bảy mươi hai tuổi, mắt còn tinh, lưng vẫn thẳng — ngày nào cũng mua hai chục ký thịt

    Xóm Đông Hạ vốn yên bình, ruộng đồng trải dài đến tận chân núi, con đường đất đỏ quanh năm bụi phủ. Người dân nơi đây quen thuộc từng tiếng chó sủa, từng bước chân người đi chợ. Vậy nên chuyện gì “lệch nhịp” một chút cũng thành đề tài bàn tán, huống gì chuyện ông Cụ Lãm — bảy mươi hai tuổi, mắt còn tinh, lưng vẫn thẳng — ngày nào cũng mua hai chục ký thịt.

    Ban đầu, ai cũng nghĩ ông mua giùm nhà nào. Nhưng ngày này qua ngày khác, tháng này sang tháng khác, ông vẫn đèo chiếc xe đạp cọc cạch đến chợ, dừng trước quầy thịt bà Hoa, giọng khàn đặc:

    – Cô lấy cho tôi hai mươi ký như hôm qua.

    Người bán thịt nhìn ông, không dám hỏi nhiều. Có lần bà nhỏ giọng:

    – Mua gì mà nhiều vậy bác? Nhà bác có bao nhiêu người?

    Ông chỉ cười, ánh mắt như né tránh:

    – À… tôi dùng. Cô cứ bán đi.

    Câu trả lời nghe mơ hồ. Lần đầu thấy lạ, lần sau càng lạ hơn khi bà Hoa nhận ra ông trả tiền bằng những tờ tiền đã được xếp rất thẳng, sạch sẽ, như vừa được cất kỹ đâu đó. Không phải tiền trợ cấp, không phải tiền bán ruộng. Tiếng đồn lan ra xóm:

    “Ông Lãm nuôi chó dữ để giữ nhà.”
    “Không, ổng nuôi lợn lậu trong nhà.”
    “Hay là ổng buôn bán thứ gì bí ẩn?”

    Có người còn thì thầm:
    “Nhà ổng có tiếng động lạ ban đêm đó…”


    Sự việc lên đến đỉnh điểm khi bà Hoa thấy tay ông Lãm run run khi trả tiền, gương mặt xanh tái lạ lùng. Bà lo lắng:

    – Bác… bác không sao chứ?

    Ông không trả lời. Chỉ bỏ gói thịt lên xe, đạp đi mà không quay đầu lại.

    Bà Hoa linh cảm có chuyện gì đó không ổn. Một ông già hơn bảy mươi, sống một mình, ngày nào cũng mua chừng ấy thịt, không thể không đáng nghi. Bà gọi cho trưởng thôn, rồi trưởng thôn gọi lên xã. Chỉ sau nửa giờ, tin lan khắp xóm như lửa gặp gió.


    Buổi chiều, trời phủ mây xám. Tổ công tác xã đi cùng hai công an huyện tiến đến căn nhà ông Lãm cuối xóm. Căn nhà cũ kỹ, cửa gỗ đóng kín mít, sân trước đầy lá bàng rơi.

    – Bác Lãm! – Trưởng thôn gõ cửa – Bác mở cửa cho chúng tôi kiểm tra chút!

    Không tiếng trả lời.

    – Bác Lãm! Nếu bác không mở, chúng tôi buộc phải vào theo quy định!

    Vẫn im lặng.

    Công an xã nhìn nhau. Cuối cùng, họ quyết định phá khóa. Chỉ một tiếng kẹt mạnh, ổ khóa rơi xuống đất.

    Cửa bật mở, mọi người ùa vào rồi lập tức khựng lại.

    Mùi thịt lan ra nồng nặc, nhưng không phải mùi ôi thiu mà là mùi thịt được phơi, được xông khói rất công phu. Trong gian nhà rộng hun hút, những dàn treo thịt khô giăng từ đầu phòng đến cuối bếp, chi chít từng miếng thịt đỏ au được cắt thành khúc đều đặn. Hàng chục ký thịt khô treo lủng lẳng như một xưởng sản xuất.

    Ai cũng tái mặt.

    Bà Hoa sợ hãi lùi lại một bước:

    – Trời đất ơi… bác ấy… định làm gì trong đây vậy?

    Trưởng thôn bối rối:

    – Cái này… không phải nuôi lợn lậu. Không phải buôn hàng cấm… Nhưng… làm sao ăn hết?

    Một cán bộ công an hô lớn:

    – Mọi người tìm ông ấy đi! Có thể ông gặp tai nạn, ngất xỉu trong nhà!

    Họ tỏa ra. Chỉ vài phút sau, tiếng gọi vang lên từ gian phòng cuối:

    – Ở đây! Có người nằm ở đây!

    Tất cả chạy vào.

    Ông Lãm nằm trên giường, người chỉ vừa tỉnh, mặt nhợt nhạt. Bên cạnh là một chiếc thùng gỗ lớn chứa đầy những gói thịt đã hút chân không. Trên thùng là một tập giấy được buộc bằng dây thừng mỏng.

    Ông thều thào khi thấy mọi người:

    – Mấy chú… làm gì nhà tôi vậy?

    Trưởng thôn thở dài:

    – Bác ơi, bác làm cả xóm lo lắng. Bác bệnh mà không nói. Nhà bác toàn thịt… bác định làm gì mà mua nhiều vậy?

    Ông Lãm nhắm mắt lại, nước mắt chảy ra từ khóe mắt già nua.

    – Tôi… tôi chỉ muốn gửi cho thằng Nghĩa… con trai tôi…

    Không khí bỗng lặng như tờ.

    Cán bộ xã ngạc nhiên:

    – Anh Nghĩa… lính biên phòng phải không bác? Cháu nhớ anh ấy mà.

    Ông Lãm gật đầu, hai bàn tay run bần bật.

    – Hồi nó còn nhỏ… nó thích món thịt rim khô tôi làm lắm. Từ ngày nhập ngũ… xa nhà, tôi sợ nó thiếu thốn… nên tôi làm gửi nó mỗi tháng. Nó bảo ở trên đó lạnh… ăn thịt khô tiện. Tôi làm nhiều, gửi nhiều… Anh em nó cùng ăn… Tôi mừng.

    – Nhưng bác gửi… nhiều vậy sao? – trưởng thôn hỏi.

    Ông Lãm quay mặt đi, giọng nghẹn lại:

    – Mấy tháng rồi… nó không gọi về. Nhưng đồng đội nó… vẫn xuống làng, ghé lấy thùng thịt, nói là chuyển lên đồn cho nó.

    Ông thở dài:

    – Tôi biết… tụi nó thương tôi. Tôi biết… nhưng không dám tin.

    Mọi người nhìn nhau, lòng thắt lại. Một công an trẻ tuổi cúi đầu, nói nhỏ nhưng từng chữ như dao cắt:

    – Bác ơi… anh Nghĩa… hy sinh rồi. Đơn vị báo về nhưng chúng con xin phép giữ lại, vì sợ bác sốc. Đồng đội anh… vẫn thay anh xuống lấy thịt để bác tin rằng anh còn sống.

    Không gian như đóng băng. Bà Hoa đưa tay lên miệng bật khóc. Trưởng thôn quay mặt đi lau nước mắt.

    Ông Lãm ngồi bật dậy, đôi mắt mờ đục mở to:

    – Nó… nó ch;ết rồi ư?
    – Bác… tụi con xin lỗi…

    Ông lão buông người xuống, đôi vai rung lên như cố kìm tiếng nấc. Ai cũng tưởng ông sẽ gào lên, nhưng không. Ông chỉ nói bằng giọng khô khốc:

    – Biết… biết sao giờ… Nó là lính… Tôi sinh nó ra… cũng biết có ngày này…

    Không ai nói được gì.

    Một lúc lâu sau, ông đưa mắt nhìn căn phòng đầy thịt khô:

    – Tôi làm nhiều vậy… cũng chỉ mong nó… được ăn ngon. Thế mà…

    Ông mỉm cười, nụ cười đau đớn đến nhói lòng.


    Chính quyền thu xếp đưa ông đến trạm y tế xã kiểm tra sức khỏe. Bác sĩ bảo ông suy nhược nặng, thiếu ngủ nhiều ngày. Hóa ra, vì làm thịt xuyên đêm nên ông không nghỉ ngơi.
    Xã vận động đoàn thanh niên, hội phụ nữ dọn dẹp gian bếp, phơi phóng, vệ sinh lại. Nhưng họ giữ nguyên một góc nhỏ, nơi ông treo những miếng thịt đã được sấy đẹp nhất, như kỷ vật.

    Một tuần sau, lãnh đạo đồn biên phòng cùng vài chiến sĩ trẻ đến thăm. Họ mang theo một chiếc hộp gỗ.

    – Đây là những lá thư Nghĩa viết nhưng chưa gửi. Nó muốn cảm ơn bác vì những gói thịt… cả đơn vị ai cũng thích. Nhờ bác mà tụi con đỡ nhớ nhà.

    Ông Lãm cầm hộp thư, khóc không thành tiếng.

    Họ ở lại suốt buổi chiều, kể cho ông nghe từng câu chuyện về Nghĩa: cách anh chia phần thịt cho đồng đội, cách anh khoe bố mình giỏi nấu nướng ra sao. Nghe đến đoạn đó, ông già cười – lần đầu tiên kể từ hôm biến cố xảy ra.


    Từ đó, mỗi buổi chiều trong xóm Đông Hạ lại thấy ông Lãm ngồi trước hiên nhà, tập thể dục nhẹ, thi thoảng trò chuyện với bà con. Không còn những thùng thịt khổng lồ nữa. Nhưng mùi thịt rim khô vẫn phảng phất, vì ông vẫn làm – chỉ là làm một ít, để gửi tặng đồn biên phòng, “coi như thay thằng Nghĩa gửi cho tụi nó”.

    Người trong xóm lúc trước nghi ngờ, giờ ai gặp ông cũng cúi chào, hỏi han:
    – Hôm nay bác khỏe không?
    – Bác ăn cơm chưa?

    Ông cười hiền:

    – Ừ, khỏe. Nhờ xóm mình cả thôi.

    Và mỗi lần ai hỏi sao vẫn làm thịt khô, ông chỉ đáp:

    – Vì đó là cách tôi nhớ nó… Mà nhớ người mình thương thì… đâu có tội.

    Một câu nói khiến cả xóm nghẹn lại.


    Trên mái hiên, chỗ ông treo những miếng thịt khô đẹp nhất ngày nào, giờ còn một tấm di ảnh nhỏ của anh Nghĩa, cạnh tờ giấy ghi câu chữ chưa tròn ông viết nguệch ngoạc:

    “Con ăn cho ấm. Ở biên giới lạnh lắm. Ba thương con.

  • Bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố năm 2025: Quy trình cụ thể gồm những bước nào?

    Bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố năm 2025: Quy trình cụ thể gồm những bước nào?

    Theo báo Dân việt, luật sư Ma Văn Giang (Văn phòng Luật sư Nam Hồng – Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho hay, tại Quyết định số 759/QĐ-TTg năm 2025 phê duyệt Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, Thủ tướng đã phê duyệt phương án sắp xếp đối với thôn, tổ dân phố thuộc cấp xã như sau:

    Tiếp tục xác định thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư, không phải là cấp hành chính; trước mắt giữ nguyên các thôn, tổ dân phố hiện có. Chính phủ giao Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng và xác định lộ trình sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo hướng tinh gọn, đáp ứng yêu cầu phục vụ trực tiếp đời sống của cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã.

    Như vậy, theo luật sư Giang, khi thực hiện việc sáp nhập tỉnh, xã, trước mắt vẫn giữ nguyên các thôn, tổ dân phố hiện có; sau đó mới nghiên cứu và xác định lộ trình sắp xếp, tổ chức lại theo hướng tinh gọn, hợp lý.

    Những trường hợp nào Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố bị bãi nhiệm?

    Theo luật sư Giang, trong trường hợp thực hiện bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố sẽ áp dụng quy định tại Điều 9 Nghị định số 59/2023/NĐ-CP về quy trình cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố năm 2025.

    Cụ thể, việc cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được quyết định tại cuộc họp của cộng đồng dân cư trong các trường hợp:

    người có nguyện vọng xin thôi vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc lý do cá nhân khác; người này phải có đơn gửi Chủ tịch UBND cấp xã, nêu rõ lý do xin thôi.

    Trưởng ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố có thể đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã xem xét cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố trong các trường hợp: không còn được nhân dân tín nhiệm; không hoàn thành nhiệm vụ; vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; tham nhũng, lãng phí; không chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của UBND cấp xã hoặc quy định của cấp trên; vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; hoặc khi có ít nhất 50% tổng số hộ gia đình hoặc đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố kiến nghị.

    Trình tự tổ chức cuộc họp cộng đồng dân cư để xem xét cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được thực hiện theo khoản 5 Điều 3 Nghị định 59/2023/NĐ-CP.

    Trình tự bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố gồm những bước nào?

    Cụ thể, người chủ trì cuộc họp tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu tham dự; thông qua chương trình cuộc họp; giới thiệu người để cộng đồng dân cư biểu quyết cử làm thư ký cuộc họp. Thư ký cuộc họp được quyết định khi có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp giơ tay biểu quyết đồng ý.

    Căn cứ vào nội dung cụ thể, người chủ trì hoặc người được phân công sẽ công bố các quyết định, văn bản liên quan theo chương trình đã được thông qua.

    Người tham dự cuộc họp thảo luận về các nội dung do người chủ trì hoặc người được phân công trình bày. Đối với cuộc họp của cộng đồng dân cư để bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; thành viên Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng; thành viên Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn, đại diện Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố sẽ giới thiệu danh sách người ứng cử. Danh sách này do Ban công tác Mặt trận thống nhất với cấp ủy chi bộ thôn, tổ dân phố, đồng thời đề nghị các đại diện hộ gia đình tham dự tự ứng cử hoặc đề cử người đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia bầu.

    Sau phần thảo luận, người chủ trì cuộc họp tổng hợp ý kiến, đề xuất nội dung cần biểu quyết và phương án biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín để người tham dự lựa chọn. Phương án được thông qua khi có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp giơ tay biểu quyết đồng ý.

    Khi biểu quyết bằng hình thức giơ tay, kết quả được kiểm đếm trực tiếp tại thời điểm biểu quyết và ghi vào biên bản cuộc họp.

    Trường hợp biểu quyết bằng bỏ phiếu kín, người chủ trì đề xuất số lượng và danh sách Ban kiểm phiếu từ 03–05 người (gồm Trưởng ban và các thành viên) để đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp biểu quyết bằng hình thức giơ tay. Ban kiểm phiếu được thành lập khi có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự giơ tay đồng ý. Ban kiểm phiếu sẽ hướng dẫn thể lệ, cách ghi phiếu, phát phiếu và tổ chức bỏ phiếu.

    Sau khi kết thúc bỏ phiếu, Ban kiểm phiếu tiến hành kiểm phiếu; đồng thời mời 02 đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp chứng kiến. Ban kiểm phiếu lập biên bản kiểm phiếu theo Mẫu số 02 kèm theo Nghị định và Trưởng ban kiểm phiếu công bố kết quả tại cuộc họp. Biên bản kiểm phiếu được lập thành 03 bản, gửi kèm Quyết định của cộng đồng dân cư đến UBND cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và lưu giữ tại thôn, tổ dân phố.

    Người chủ trì cuộc họp công bố kết quả biểu quyết đối với từng nội dung và kết luận cuộc họp. Quyết định của cộng đồng dân cư được thể hiện bằng các văn bản: nghị quyết, biên bản cuộc họp, bản ghi nhớ hoặc bản thỏa thuận, trong đó ghi rõ nội dung quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

    Trường hợp cuộc họp để bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, người trúng cử sẽ ra mắt tại cuộc họp. Nếu không xác định được người trúng cử, cần nêu rõ lý do trong biên bản để báo cáo UBND cấp xã xem xét, quyết định tổ chức bầu lại.

    Ngay sau khi cuộc họp kết thúc, người chủ trì có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ cuộc họp. Chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc họp, quyết định đã được cộng đồng dân cư biểu quyết thông qua (theo Mẫu số 03 kèm theo Nghị định) phải được gửi đến UBND cấp xã và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

  • Vậy mà chỉ sau một cuộc họp căng thẳng – hay nói đúng hơn, sau vài câu nói quá thẳng thắn của tôi – mọi thứ đổsụp. –

    Vậy mà chỉ sau một cuộc họp căng thẳng – hay nói đúng hơn, sau vài câu nói quá thẳng thắn của tôi – mọi thứ đổsụp. –

    “Người gác cổng”

    Tôi tên là Trịnh Nam, ba mươi tám tuổi, từng là chuyên viên thanh tra của một sở trong tỉnh. Công việc không vinh quang nhưng cũng đủ khiến cha mẹ tự hào. Vậy mà chỉ sau một cuộc họp căng thẳng – hay nói đúng hơn, sau vài câu nói quá thẳng thắn của tôi – mọi thứ đổ sụp.

    Hôm đó, tôi góp ý về một dự án vốn đội lên bất thường. Tôi đưa ra số liệu rõ ràng, nhưng một phó giám đốc – người có họ hàng với nhà thầu – tím mặt. Chỉ ba ngày sau, tôi nhận quyết định điều xuống làm… bảo vệ hợp đồng, thuộc diện “hỗ trợ an ninh tạm thời”.

    Tạm thời nhưng không biết bao giờ kết thúc.

    Từ phòng làm việc có máy lạnh, tôi chuyển ra chòi gác đầu cổng, cạnh gốc phượng già. Áo sơ-mi trắng đổi thành bộ đồng phục xanh bạc màu. Mỗi sáng, tôi đứng thẳng người chào những cán bộ đi qua đi lại – trong đó có những người từng gọi tôi là “anh Nam”, “chú Nam”.

    Giờ họ chỉ gật đầu lấy lệ. Có người còn quay mặt đi.

    Nhà tôi cách cơ quan hơn 10km. Vợ tôi dạy tiểu học, lương thấp, con thì đang tuổi học. Tôi không dám nói với ai mình bị “đì”, chỉ bảo công việc thay đổi chút cho thoải mái.

    Nhưng thật ra, mỗi tối nằm trong căn phòng 12m² tập thể, tôi nghe tiếng quạt quay vù vù mà sống mũi cay xè.


    Cơ quan xôn xao mấy tuần liền về việc tỉnh sắp có Phó chủ tịch mới. Người ta bảo ông này trẻ, bản lĩnh, học cao từ Hà Nội về. Lịch thị sát cơ quan tôi được thông báo trước. Tất cả nơm nớp dọn dẹp, chỉnh trang.

    Riêng tôi, như mọi ngày, đứng ở cổng.

    Buổi sáng trời đầy mây. Khoảng 8 giờ, đoàn xe biển xanh tiến vào. Tôi đứng nghiêm, giơ tay chào. Cửa sau xe mở, một người đàn ông cao ráo, đẹp trai theo cách chín chắn bước xuống. Gương mặt sáng, đôi mắt sắc nhưng hiền.

    Ông bước tới cổng nơi tôi đứng. Khi tôi cúi đầu chào và giơ thẻ để quét, mắt ông dừng lại nơi tấm thẻ công tác trước ngực tôi.

    Và rồi… ông khựng lại.

    Tôi thấy ông run rẩy thật sự. Tay ông giữ lấy mép thẻ, nhìn chăm chú như vừa thấy điều gì kinh hoàng hoặc khó tin.

    – Anh… tên gì? – giọng ông khàn hẳn.

    – Dạ, tôi là Trịnh Nam, bảo vệ…

    – Trịnh Nam nào?

    Tôi bất ngờ. Không nhớ mình quen với ai tầm cỡ như vậy.

    Ông lùi lại một bước, nuốt khan, đôi mắt đỏ hoe.

    – Trịnh Nam… trường THPT Huỳnh Văn Ngọc… phải không?

    Tôi giật mình.

    Nơi ấy là trường tôi từng dạy hợp đồng ba năm trước khi vào ngành. Lúc đó, vì bố bệnh nặng, tôi xin dạy kiêm việc làm thêm, cuộc sống khá khó khăn.

    – Dạ đúng… nhưng sao anh biết…?

    Người đàn ông siết tay lại, giọng nghẹn:

    – Tôi là… Tùng đây. Học sinh khóa 2004. Thầy không nhớ tôi sao?

    Tôi há hốc miệng.

    Tùng ngày xưa là cậu học trò nghèo nhất lớp, gầy nhẳng, lúc nào cũng ngồi bàn cuối. Cha mất sớm, mẹ bán vé số, Tùng thường nhịn ăn sáng. Có năm em suýt nghỉ học vì không có tiền đóng phí. Tôi gom được bao nhiêu, tôi giúp bấy nhiêu. Có lần trời mưa lớn, tôi bị cảm nặng cũng cố chở Tùng về vì mẹ em chưa đến kịp.

    Tôi nhớ những điều đó… nhưng không ngờ cậu học trò ngày ấy giờ đứng trước mặt tôi, trong bộ vest chỉnh tề, với danh chức khiến cả tỉnh nể.

    – Trời đất… Tùng đấy sao?

    Tùng cười mà nước mắt rơi.

    – Em tìm thầy nhiều năm mà không ra. Em nợ thầy một đời. Vậy mà giờ gặp lại thầy trong hoàn cảnh này…

    Ông quay sang đoàn tùy tùng, giọng sắc lạnh:

    – Ai phân công thầy Nam đứng đây?

    Không ai dám đáp.

    Một phó giám đốc tím tái:

    – Dạ… cán bộ điều chuyển cho hợp lý công việc…

    Tùng nhìn thẳng vào tôi, giọng nghẹn đi:

    – Thầy biết không… Nếu ngày ấy thầy không cho em tiền mua sách, không nói chuyện riêng để em khỏi bỏ học… chắc em không có ngày hôm nay. Thầy là người dựng đời cho em. Thầy không đáng đứng ở đây như thế này.

    Tôi cảm giác cả người như bị kéo lùi về thời học trò, nơi gió chiều bật tung những trang vở lem mực của Tùng.

    Tùng quay sang trưởng đoàn, dõng dạc:

    – Thầy Nam từ giờ sẽ về làm trưởng phòng hành chính – nhân sự tạm quyền. Tôi sẽ kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ điều chuyển trước đây.

    Cả đoàn choáng váng. Tôi càng bối rối:

    – Tùng… thầy… thầy không cần…

    – Không! – ông cắt lời – Không phải em muốn ưu ái. Em chỉ muốn trả lại sự công bằng mà thầy xứng đáng.

    Tôi nghẹn lời.


    Nhưng twist không nằm ở đó.

    Sau buổi làm việc hôm ấy, tôi được Tùng mời ăn tối. Chúng tôi ngồi trong quán nhỏ cạnh hồ. Tùng lặng lẽ nhìn mặt nước một lúc rồi nói:

    – Thầy Nam… thật ra người khiến thầy bị điều xuống không phải vì thầy làm sai hay nói thẳng. Mà vì… có người cố tình đổ lỗi để che một chuyện khác.

    Tôi nhíu mày:

    – Ý cậu là gì?

    Tùng rút trong cặp ra một tập hồ sơ cũ.

    – Đây là hồ sơ kiểm toán năm trước. Trong đó có báo cáo tiêu cực mà người đứng tên xử lý là thầy… Nhưng thật ra thầy chưa bao giờ ký. Có người ký giả chữ thầy để đẩy trách nhiệm.

    Tôi chết lặng.

    Tôi nhớ năm đó mình đang chăm bố nằm viện, có xin nghỉ mấy ngày. Hóa ra họ đã lợi dụng điều đó.

    – Em đã xác minh xong. Những dấu hiệu giả mạo chữ ký đều rõ ràng. Thầy bị điều đi chỉ để người khác thoát trách nhiệm…

    Tôi siết chặt tay, ngực đau nhói.

    Tùng đặt tay lên vai tôi, giọng trầm ấm:

    – Nhưng thầy ơi, thầy yên tâm. Em sẽ xử lý việc này đúng luật, không để ai lợi dụng nữa. Em nợ thầy nên em sẽ giúp thầy một cách đường đường chính chính.

    Tôi nhìn Tùng – không còn là cậu học trò rụt rè ngày nào mà là một người đàn ông vững chãi, đôi mắt chan chứa biết ơn.

    – Cảm ơn em, Tùng. Thầy… thật sự không nghĩ có ngày…

    – Không, thầy. – Tùng cười – Ân nghĩa không mất đi. Nó chỉ đi lạc một thời gian để tìm đường trở lại.

    Tôi cúi đầu. Tối hôm đó, không phải gió hồ lạnh làm tôi run, mà là sự ấm áp từ một mối nhân duyên cũ.


    Vài tháng sau, tôi nhận quyết định chính thức làm phó phòng hành chính – nhân sự, còn người giả chữ ký bị điều tra. Tùng không ưu ái tôi quá mức, không bao che ai. Mọi thứ đều đúng quy định, đúng trình tự.

    Nhưng ông vẫn gọi tôi bằng hai chữ khiến tôi ấm cả lòng:

    – Thầy Nam.

    Còn tôi, từ chỗ đứng trước cổng ngày nào, giờ mỗi sáng đi ngang qua căn chòi gác, tôi vẫn chào những anh bảo vệ ở đó. Tôi hiểu cảm giác của họ. Tôi biết cái lạnh của nỗi cô đơn mang tên “bị hạ thấp”.

    Và tôi luôn nhắc mình:

    Đôi khi, một điều tử tế nhỏ bé mình gieo cho ai đó nhiều năm trước sẽ quay lại như một phép màu – đúng lúc mình cô đơn và thất thế nhất.

  • Nhưng chỉ một tiếng sau khi trang điểm xong, cô đã phải đứng ru;n r;ẩy trong phòng thay đồ của nhà trai, nhìn bà Thoa — mẹ chồng tương lai — mặt lạnh như băng. Bà cầm cái tông đơ bật rẹt rẹt ngay trước mặt Vy

    Nhưng chỉ một tiếng sau khi trang điểm xong, cô đã phải đứng ru;n r;ẩy trong phòng thay đồ của nhà trai, nhìn bà Thoa — mẹ chồng tương lai — mặt lạnh như băng. Bà cầm cái tông đơ bật rẹt rẹt ngay trước mặt Vy

    Ngày cưới của Vy lẽ ra phải là ngày đẹp nhất đời cô.
    Nhưng chỉ một tiếng sau khi trang điểm xong, cô đã phải đứng run rẩy trong phòng thay đồ của nhà trai, nhìn bà Thoa — mẹ chồng tương lai — mặt lạnh như băng.

    Bà cầm cái tông đơ bật rẹt rẹt ngay trước mặt Vy.

    “Nhà này thờ mẫu, làm dâu phải bỏ cái tính kiêu kỳ. Tóc dài là điềm xui, tao cạo cho mày để tẩy uế.”

    Vy hét lên, chạy lùi lại, nhưng chồng cô — Hải — đứng ngay cửa, không nói gì, chỉ cắn môi.

    Trong khoảnh khắc Vy tuyệt vọng nhất, bà Thoa xông tới, đè vai cô xuống, đưa tông đơ lên xoẹt một đường dài.

    Tóc Vy rơi xuống thành những mảng đen trên nền gạch trắng.
    Tiếng cười khẩy của bà Thoa vang lên:

    “Nhìn mày bây giờ mới đúng dáng làm dâu của nhà tao.”

    Vy ngồi sụm xuống, run bần bật.
    Nhưng sự tủi hổ chưa kịp tan thì bà Thoa đã ném túi đồ vào mặt cô:

    “Cút lên chùa đầu làng đi. Tẩy uế đủ 10 ngày rồi về. Nhà này không nhận con dâu dơ bẩn.”

    Hải chỉ lắp bắp:
    “Mẹ… mẹ quá rồi…”
    Nhưng cũng không dám kéo vợ lại.

    Vy nhìn người đàn ông mà mình sắp lấy làm chồng—rồi quay lưng bước đi.
    Không khóc. Không nói.
    Chỉ im lặng đến đáng sợ.

    10 NGÀY SAU — BẮT ĐẦU CƠN ÁC MỘNG

    Tưởng Vy sẽ biến mất.
    Nhưng đúng ngày thứ 10, lúc 3 giờ sáng, điện thoại Hải reo liên tục.

    Tin nhắn từ hàng xóm, từ người trong họ, từ thợ xây trong làng:

    “Anh ơi, hình như vợ anh đang… xây nhà?”
    “Cô Vy đang đập cái nhà hoang cuối xóm, bảo là xây studio.”
    “Cả đội thợ làm ngày đêm. Tiền chi mạnh tay lắm.”

    Hải choáng váng.
    Mẹ hắn thì bật dậy, sắc mặt tái mét:

    “Nó… nó lấy tiền đâu?”

    Hải đùng đùng chạy xuống cuối xóm.

    Và đứng chết lặng.

    Trên mảnh đất rộng ngay bìa làng — mảnh đất mà mẹ hắn đã từ chối cho Vy mượn để mở tiệm ảnh trước khi cưới — Vy đang mặc đồ thợ, đầu trọc, cầm bản vẽ chỉ đạo cả đội thi công.

    Tường đang dựng lên.
    Biển hiệu đã xong:

    “VY STUDIO — CHỤP CƯỚI, CHỤP GIA ĐÌNH, MAKEUP – NHẬN ĐẾN 2H SÁNG.”

    Hải lắp bắp:

    “Em… em làm cái gì thế này?”

    Vy quay lại, gương mặt gọn gàng, ánh mắt sắc đến mức khiến ai cũng lùi một bước.

    “Anh tưởng cạo tóc là tôi sẽ chết chìm trong nhục nhã hả?”

    Vy ngẩng đầu:

    “Tôi dùng 10 ngày để làm điều mà nhà anh không bao giờ nghĩ tôi dám làm.”

    Bà Thoa gào lên:

    “Tiền đâu mà xây cái thứ này? Mày định bôi nhọ nhà tao à? Đàn bà mà láo toét!”

    Vy nhếch môi:

    “Tiền từ đâu? Từ cái sổ tiết kiệm tôi giấu, từ khoản đầu tư chứng khoán tôi lời ba năm nay, và…”

    Cô rút ra một xấp giấy đỏ.

    “…từ 200m² đất mà tôi vừa mua đứt hôm kia.”

    Hải trợn tròn mắt:
    “Đất… đất này là của em?”

    Vy nhìn thẳng vào cả hai mẹ con:

    “Phải. Đất này đáng lẽ tôi xin mẹ chỉ để dựng cái tiệm nhỏ. Nhưng giờ tôi lấy luôn làm cơ nghiệp.”

    Cả xóm đổ ra xem.
    Có người thì thầm:

    “Con nhỏ này ghê thật, làm được thiệt luôn…”
    “Đầu trọc mà đứng chỉ đạo như chị đại luôn…”

    CAO TRÀO — HẢI PHÁT ĐIÊN
    Ngày khai trương, cả làng kéo đến chúc mừng.
    Vy đứng trong studio mới, ánh đèn lung linh chiếu lên gương mặt cương quyết của cô.

    Hải chen vào, túm tay vợ:

    “Về nhà đi. Mẹ xin lỗi rồi. Về làm dâu lại.”

    Vy rút tay khỏi, lạnh như đá:

    “Nhà đó không còn chỗ cho tôi từ ngày mẹ anh cầm tông đơ lên đầu tôi.”

    Hải đỏ mặt, giọng gào lên vì tuyệt vọng:

    “Anh không cho phép em bỏ anh!”

    Vy nhìn anh bằng ánh mắt khiến Hải đứng hình:

    “Ngày tôi bị cạo đầu, anh đứng im.
    Ngày tôi bị đuổi khỏi nhà, anh đứng im.
    Còn bây giờ, anh không còn quyền đứng cạnh tôi nữa.”

    Hải đập tay vào tường, gần như phát điên:

    “Vy! Em quay lại ngay!”

    Vy quay lưng, bỏ mặc tiếng gào, để lại một câu cuối cùng:

    “Muốn giữ tôi, anh phải dám chống lại mẹ anh.
    Nhưng anh đã chọn im lặng.”

    MẸ CHỒNG KHUỴU GỐI
    Chiều hôm đó, bà Thoa đến studio, nước mắt ràn rụa, hai tay run run chắp lại:

    “Vy… mẹ xin… mẹ sai rồi…
    Con về nhà đi, mẹ lạy con… đừng bỏ thằng Hải…”

    Vy nhìn bà thật lâu.
    Rồi đáp nhẹ nhưng sắc như dao:

    “Tôi không bỏ ai cả.
    Chỉ là tôi tự chọn cuộc đời khác.”

    Bà Thoa bật khóc, lần đầu trong đời khiếp sợ trước chính người con dâu mà bà từng xem thường.

    Còn Vy?
    Cô đứng giữa studio của riêng mình — nơi không ai có thể cạo đầu, nhục mạ hay đuổi đi nữa.

    Vì từ hôm ấy, cô biết một điều:

    Người phụ nữ bị dồn đến đường cùng… sẽ mạnh đến mức khiến cả thế giới phải kiêng dè.